
Trong mọi giao dịch, từ việc mua bán tài sản giá trị đến thỏa thuận dịch vụ đơn giản, hợp đồng được xem là cơ sở pháp lý vững chắc, là sự cam kết ràng buộc quyền và nghĩa vụ giữa các bên. Một hợp đồng có hiệu lực chính là cánh cửa dẫn đến sự an toàn và minh bạch trong các mối quan hệ dân sự, kinh tế. Tuy nhiên, trong thực tế, không phải lúc nào mọi thỏa thuận cũng được công nhận. Đôi khi, do sơ suất, thiếu hiểu biết, hoặc thậm chí là hành vi cố ý vi phạm các quy định của pháp luật, một hợp đồng có vẻ hoàn chỉnh lại có thể bị tuyên bố là vô hiệu. Vậy, thế nào là hợp đồng vô hiệu? Các trường hợp đồng vô hiệu ? Để hiểu rõ hơn vấn đề này, hãy cùng Luật sư LDL tìm hiểu nhé!
Thế nào là hợp đồng vô hiệu ?
Căn cứ Điều 116 Bộ luật Dân sự (BLDS) 2015, “Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.”
Do hợp đồng là một dạng giao dịch dân sự, nên theo quy định tại Điều 122 BLDS 2015, hợp đồng vô hiệu nếu “không có một trong các điều kiện được quy định tại Điều 117 của Bộ luật này, trừ trường hợp Bộ luật này có quy định khác.”
Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự (Theo Điều 117 Bộ luật Dân sự 2015)
– Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau:
Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;
Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;
Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
– Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định.
Như vậy, sự vô hiệu của hợp đồng xuất phát từ việc không đáp ứng đầy đủ các điều kiện quy định tại Điều 117 BLDS 2015.
Những trường hợp nào dẫn đến hợp đồng vô hiệu.
2.1. Hợp đồng vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội (Căn cứu theo Điều 123 Bộ luật Dân sự 2015).
Hợp đồng có mục đích, nội dung vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội thì vô hiệu.
Điều cấm của luật là những quy định của luật không phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định.
Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng.
Ví dụ: A và B có ký hợp đồng mua bán lô hàng là thuốc lá điện tử. Hợp đồng mua bán này sẽ vô hiệu do mặt hàng là thuốc lá điện tử và đã bị cấm theo quy định của pháp luật.
2.2. Hợp đồng vô hiệu do giả tạo (Căn cứ theo Điều 124 Bộ luật Dân sự 2015)
– Khi các bên xác lập hợp đồng một cách giả tạo nhằm che giấu một hợp đồng khác thì hợp đồng giả tạo vô hiệu, còn hợp đồng bị che giấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp hợp đồng đó cũng vô hiệu theo quy định của Bộ luật này hoặc luật khác có liên quan.
– Trường hợp xác hợp đồng giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba thì hợp đồng đó vô hiệu.
Ví dụ: Hợp đồng mua bán hóa đơn đỏ (hóa đơn giá trị gia tăng) của công ty A cho công ty B. Thì hợp đồng này vô hiệu vì việc mua bán này nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước.
2.3. Hợp đồng vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện (Căn cứ Điều 125 Bộ luật Dân sự).
– Khi hợp đồng do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện thì theo yêu cầu của người đại diện của người đó, Tòa án tuyên bố hợp đồng đó vô hiệu nếu theo quy định của pháp luật giao dịch này phải do người đại diện của họ xác lập, thực hiện hoặc đồng ý, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
– Hợp đồng của người quy định tại khoản 1 Điều này không bị vô hiệu trong trường hợp sau đây:
+, Hợp đồng của người chưa đủ sáu tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu hàng ngày của người đó;
+, Hợp đồng chỉ làm phát sinh quyền hoặc chỉ miễn trừ nghĩa vụ cho người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự với người đã xác lập, thực hiện giao dịch với họ;
+, Hợp đồng được người xác lập hợp đồng thừa nhận hiệu lực sau khi đã thành niên hoặc sau khi khôi phục năng lực hành vi dân sự.
Ví dụ: A là người bị mất năng lực hành vi dân sự (đã có Quyết định của Toà án) nhưng lại ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì hợp đồng này sẽ được coi là vô hiệu.
2.4. Hợp đồng vô hiệu do nhầm lần (Căn cứ theo Điều 126 Bộ luật dân sự 2015)
– Trường hợp hợp đồng được xác lập có sự nhầm lẫn làm cho một bên hoặc các bên không đạt được mục đích của việc xác lập hợp đồng thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
– Hợp đồng được xác lập có sự nhầm lẫn không vô hiệu trong trường hợp mục đích xác lập hợp đồng của các bên đã đạt được hoặc các bên có thể khắc phục ngay được sự nhầm lẫn làm cho mục đích của việc xác lập hợp đồng vẫn đạt được.
Ví dụ: ông A là người mua lại mảnh đất của anh B, cả hai thống nhất việc mua bán mảnh đất chỉ với diện tích 200m2 trong tổng diện tích 600m2, nhưng lại nhầm lẫn ghi thành 300m2 trong hợp đồng. Sau khi phát hiện ra sự việc, anh B có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố hợp đồng vô hiệu vì không đạt được mục đích là bán đúng diện tích đất mà mình mong muốn.
2.5. Hợp đồng vô hiệu do bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép (Căn cứ theo Điều 127 Bộ luật dân sự 2015).
Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa, cưỡng ép thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu.
Lừa dối trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó.
Đe dọa, cưỡng ép trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc người thứ ba làm cho bên kia buộc phải thực hiện giao dịch dân sự nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của người thân thích của mình.
Ví dụ: A có vay B một số tiền, nhưng vì làm ăn thua lỗ nên mất khả năng chi trả. B thuê một số người tới đe doạ, đánh đập và ép buộc A ký vào hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất cho B. Do sợ hãi và bị đánh, nên A ký vào hợp đồng tặng cho, do đó hợp đồng tặng cho này sẽ bị vô hiệu.
2.6. Hợp đồng vô hiệu do người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình (Căn cứ theo Điều 128 Bộ luật Dân sự 2015)
Người có năng lực hành vi dân sự nhưng đã xác lập giao dịch vào đúng thời điểm không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình thì có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu.
Ví dụ: Sau cuộc nhậu, trong lúc anh A đang say xỉn không nhận thức được hành vi của mình, A và B đã ký hợp đồng mua bán một chiếc xe ô tô với giá rẻ. Trong trường hợp này thì hợp đồng mua bán đó sẽ vô hiệu.
2.7. Hợp đồng vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức (Căn cứ theo Điều 129 Bộ luật Dân sự 2015).
Hợp đồng vi phạm quy định điều kiện có hiệu lực về hình thức thì vô hiệu, trừ trường hợp sau đây:
– Hợp đồng đã được xác lập theo quy định phải bằng văn bản nhưng văn bản không đúng quy định của luật mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong hợp đồng thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của hợp đồng đó;
– Hợp đồng đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong hợp đồng thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của hợp đồng đó. Trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực.
Ví dụ: Anh A và chị B thỏa thuận mua bán một căn nhà. Hai bên chỉ ký vào giấy tờ mua bán bằng văn bản mà không mang đi công chứng hoặc chứng thực tại cơ quan có thẩm quyền. Trong trường hợp này, hợp đồng sẽ bị tuyên bố vô hiệu vì không tuân thủ quy định về hình thức của hợp đồng mua bán bất động sản.
2.8. Hợp đồng vô hiệu do có đối tượng không thể thực hiện được (Căn cứ theo Điều 408 Bộ luật Dân sự 2015).
– Trường hợp ngay từ khi giao kết, hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được thì hợp đồng này bị vô hiệu.
– Trường hợp khi giao kết hợp đồng mà một bên biết hoặc phải biết về việc hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được nhưng không thông báo cho bên kia biết nên bên kia đã giao kết hợp đồng thì phải bồi thường thiệt hại cho bên kia, trừ trường hợp bên kia biết hoặc phải biết về việc hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được.
– Quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này cũng được áp dụng đối với trường hợp hợp đồng có một hoặc nhiều phần đối tượng không thể thực hiện được nhưng phần còn lại của hợp đồng vẫn có hiệu lực.
Ví dụ: A ký hợp đồng mua bán một căn nhà của B, nhưng tại thời điểm giao kết, cơ quan có thẩm quyền đã ra quyết định giải toả căn nhà của B. Do đối tượng của hợp đồng (căn nhà) không thể chuyển giao nên hợp đồng sẽ bị tuyên bố vô hiệu.
Hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu (Căn cứ theo Điều 131 Bộ luật dân sự 2015).
– Hợp đồng vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm hợp đồng được xác lập.
– Khi hợp đồng vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. (Trường hợp không thể hoàn trả được được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả).
– Bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức đó.
– Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường.
– Việc giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu liên quan đến quyền nhân thân do Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định.
——————————————–
Qua việc phân tích về khái niệm và các trường hợp hợp đồng vô hiệu (như vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật, do giả tạo, hoặc do nhầm lẫn,…) chúng ta thấy rằng rủi ro pháp lý luôn hiện hữu và có thể làm sụp đổ mọi cam kết. Hậu quả pháp lý của việc một hợp đồng bị tuyên bố vô hiệu là vô cùng lớn, không chỉ dẫn đến hoàn trả những gì đã nhận mà còn có thể phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Vì lẽ đó, sự cẩn trọng và hiểu biết pháp luật không bao giờ là thừa thãi, nếu quý vị cần đánh giá, soạn thảo hợp đồng để phòng ngừa rủi ro, hoặc đang vướng mắc trong việc giải quyết tranh chấp liên quan đến hợp đồng, hãy liên hệ ngay với Luật sư LDL để nhận được sự tư vấn pháp lý và giải pháp bảo vệ quyền lợi toàn diện nhất.






