Ngày 12/11/2013 và ngày 04/8/2014, giữa bà L (Sophia) và Công ty SG ký kết các Hợp đồng vay tài sản số J1-2013/HDV/SG (gọi tắt là Hợp đồng vay năm 2013) và Hợp đồng vay tài sản số 2014/HĐV/SG (gọi tắt là Hợp đồng vay năm 2014), với số tiền vay lần lượt là 01 triệu đô la Mỹ tương đương 21.036.000.000 Việt Nam đồng và 278.000 đô la Mỹ tương đương 5.906.388.000 Việt Nam đồng, thời hạn vay của cả 02 hợp đồng lần lượt là 06 tháng và 05 tháng kể từ ngày ký hợp đồng; lãi suất vay là 10%. Do phía Công ty SG không trả nợ nên bà L khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bị đơn phải trả lại tiền nợ gốc và tiền lãi. Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý vụ án, xác định quan hệ tranh chấp hợp đồng vay tài sản là đúng thẩm quyền giải quyết quy định tại khoản 3 Điều 26; khoản 3 Điều 35 và khoản 1 Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Theo thỏa thuận của các bên tại Điều 3.1 của Hợp đồng vay năm 2013 có nội dung “Việc hoàn tiền gốc theo quy định tại Điều 1 của Hợp đồng này sẽ không chậm hơn ngày 30/6/2014, trừ trường hợp hai bên có thỏa thuận khác” và Điều 5 của Hợp đồng vay năm 2014 quy định: “Bên vay phải trả nợ gốc và lãi phát sinh cho bên cho vay không chậm hơn ngày 01/02/2015, trừ trường hợp hai bên có thỏa thuận khác”.
Theo Vi bằng số 2977/2021/VB-TPLHBT ngày 27/12/2021 (bút lục 152-195) do nguyên đơn cung cấp thể hiện hình ảnh nội dung các thư điện tử trao đổi qua lại giữa Kế toán Công ty SG (tài khoản kt kt@yahoo.com), ông Đinh Xuân Hải S (tài khoản dinhxuanhs@yahoo.com.vn) với bà L (tài khoản sophia.l@enlherbmfg.yn); nội dung các thư điện tử thể hiện cam kết của Công ty SG sẽ trả nợ cho bà L. sau khi hoàn tất việc chuyển nhượng cổ phần. Các bên trao đổi thông tin qua thư điện tử vào các ngày 15/12/2015 và ngày 05/01/2016.
Ngày 08/11/2018, bà Vũ Thị Khánh Ph nhân viên Phòng Tổng hợp và Đầu tư Công ty SG gửi email cho bà L thư của ông Đinh Xuân Hải S nội dung: “Gửi bà Sophia, tôi xin gửi tới bà bức thư của anh S theo yêu cầu của anh ấy như sau: kính gửi các cổ đông của ESG, như tất cả chúng ta đã thống nhất, tôi đang cố gắng bán tài sản của ESG cho các cổ đông của chúng ta để thanh toán từ các khoản đầu tư dài hạn ngoài ý muốn. Tôi đã làm việc với một trong những người mua tiềm năng nhất từ Singapore và nó sắp kết thúc…”
Theo thỏa thuận trong Hợp đồng vay năm 2013 và Hợp đồng vay năm 2014 thì thời điểm phía Công ty SG phải có nghĩa vụ thanh toán các khoản vay cho bà L là các ngày 30/6/2014 và 01/02/2015; tuy nhiên, do phía Công ty SG khó khăn về tài chính nên thỏa thuận trả nợ cho phía bà L sau khi hoàn tất việc chuyển nhượng cổ phần. Theo Thông báo thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp của Công ty SG ngày 11/12/2019 thì quyền sở hữu chi phối của Công ty thay đổi từ Công ty cổ phần VK và ông Đinh Xuân Hải S sang Công ty Nexif Energy SG Pte Ltd Singapore) thông qua việc chuyển nhượng 94,34% cổ phần.
Việc bà L đồng ý với đề nghị từ phía Công ty SG về việc gia hạn trả nợ sau khi Công ty kết thúc chuyển nhượng cổ phần được xem là thỏa thuận khác trong hợp đồng; nội dung các thư điện tử phía Công ty SG đều thừa nhận và đang gia hạn trả nợ. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm chưa xác minh làm rõ tính hợp pháp của các tài liệu do phía nguyên đơn cung cấp làm căn cứ giải quyết vụ án. Bởi lẽ, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 157 của Bộ luật Dân sự về bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện khi “Bên có nghĩa vụ đã thừa nhận một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình đối với người khởi kiện; Trường hợp xác định được giữa các đương sự có trao đổi thư điện tử như nội dung thể hiện tại Vi bằng thì hời hạn Công ty SG phải trả nợ cho bà L là ngày Công ty hoàn tất việc chuyển nhượng cổ phần (11/12/2019); đồng thời, việc tính thời hiệu khởi kiện cũng phải được xác định kể từ ngày 12/12/2019. Theo quy định tại Điều 129 của Bộ luật Dân sự “Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm”.
Căn cứ quy định trên thì thời hiệu khởi kiện của vụ án này được xác định đến ngày 12/12/2022, ngày 9/9/2020 nguyên đơn bà L khởi kiện vụ án là còn trong thời hiệu khởi kiện. Do đó, việc Tòa án cấp sơ thẩm xác định đã hết thời hiệu khởi kiện 03 năm đối với các hợp đồng vay tài sản năm 2013 là ngày 30/6/2017 và hợp đồng vay năm 2014 là ngày 01/02/2018, đồng thời, căn cứ điểm e khoản 1 Điều 217; khoản 1, khoản 2 Điều 184 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 429 của Bộ luật Dân sự xác định thời hiệu khởi kiện đã hết, từ đó quyết định đình chỉ giải quyết vụ án là chưa đủ căn cứ.
Theo quy định khoản 2 Điều 155 của Bộ luật Dân sự thì không áp dụng hời hiệu khởi kiện trong trường hợp “yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác”, nội dung này cũng được hướng dẫn tại tiểu mục 2 Mục III Công văn số 02/2021/TANDTC-PC ngày 32/8/2021 của Tòa án nhân dân tối cao về việc giải đáp một số vướng mắc trong công tác xét xử. Đối với yêu cầu đòi lại tài sản (nợ gốc) thì không áp dụng thời liệu khởi kiện nên trong vụ án này, nguyên đơn bà L vẫn có quyền khởi kiện yêu cầu bị đơn trả lại tài sản vay mà không phụ thuộc vào yêu cầu áp dụng thời hiệu từ phía bị đơn. Việc Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ yêu cầu áp dụng thời hiệu từ phía bị đơn để đình chỉ giải quyết vụ án là không đúng, xâm nghiêm trọng quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Do vậy, Quyết định giải quyết việc kháng cáo đối với Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 235/2024/QĐ-PT ngày 25/7/2024 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn và theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng, hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 05/2024/QDST-DS ngày 04/3/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh K và chuyển hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm để tiếp tục giải quyết vụ án.







